Có một họa sĩ như thế- Nguyên Lương

 Tác giả: Nguyên Lương 


(Viết để kỷ niệm sinh nhật 70t của Chú hôm 18 tháng 3, 2013)

 

Tôi gọi ông bằng Chú, vì ông là Chú ruột của vợ bạn thân tôi. Năm 75, hai đứa vừa qua Mỹ được học bỗng chung một trường đại học, bây giờ anh đang là một Bác Sĩ tim rất nổi tiếng ở Miami. Anh nổi tiếng nhờ năm 1993, đã là người bác sĩ mổ tim đầu tiên trên thế giới, làm cuộc cách mạng trong việc thay thế mấy bộ phận trong lục phủ ngũ tạng cùng một lúc cho ông Thống Đốc tiểu bang Pennsylvania để giúp kéo dài sự sống cho ông thêm 10 năm nữa. Năm 2008, vợ chồng tôi về Florida nghỉ mát, ghé thăm bạn, được bạn cho xem chừng 20 tác phẩm tranh sơn dầu, sơn mài của một họa sĩ từ Hà Nội gởi qua tặng cho cô cháu gái làm quà. Tôi sững sờ trước những tác phẩm hội họa rất lạ về bố cục, màu sắc, kết cấu…mà từ trước đến giờ chỉ tìm thấy ở những bức tranh của ngoại quốc chứ chưa thấy ở những họa sĩ người Việt. Về lại nhà, tôi lên mạng tìm tòi để biết thêm về ông và thế là ngày nào rảnh tôi cũng vào các trang mạng của những người sưu tầm tranh ông để xem ké. Tôi bị tranh hội họa của ông mê hoặc từ đó.

Thật ra tên ông cũng không lạ gì với gia đình tôi. Mẹ vợ tôi, họa sĩ Cam Ly, đã một thời là đồng môn của ông. Bà thường kể chuyện những năm 74-75 khi chiến tranh sắp chấm dứt, người sĩ quan thích vẽ trở về học hội họa ở trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội. Tại đây ông làm lớp trưởng nên bạn học rất kính nể, không biết vì tài năng hay vì những hy sinh của ông từ chiến trường. Học vẽ, chỉ là cách để hợp thức hóa cái đam mê và khả năng bẩm sinh ông có từ bé, để có mảnh bằng. Khi quân viễn chinh Pháp quay trở lại Đông Dương sau thế chiến thứ hai, chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ. Cậu bé được 2 tuổi theo Mẹ về quê Ngoại ở Hà Tĩnh, còn Cha ông thì vào Nam vì đang làm quan lớn trong triều đình Huế. Đọc tiểu sử của ông trong bài Người Hoạ Sĩ Có Số Phận Kỳ Lạ, có đoạn viết: “Trong khi người cha ở lại Huế ‘xênh xang áo mão cân đai’ thì vợ con ông ở quê ngoại lại phải sống trong tủi nhục oan nghiệt, bị những người xung quanh dè bỉu, xa lánh vì có cha, có chồng làm cho phía bên kia. Bà mẹ của ông một nách 3 đứa con đã phải nhẫn nhục trăm cay nghìn đắng cố gắng chống chọi với đói khổ và điều tiếng thị phi chỉ để những đứa con tồn tại”. Mẹ ông là chắt ruột của cụ Tiên Điền, một gia phả rất lớn ở Hà Tĩnh. Khi đất nước chia đôi năm 1954, gia đình ông cũng như bao gia đình người Việt khác chịu cảnh chia ly kẻ Bắc người Nam từ đây . Vì có lý lịch không tốt nên suốt thời thanh niên ông phải vất vả, tận lực phấn đấu để cố ngoi lên, nhưng cái “phốt” lý lịch quá lớn đã đóng lại tất cả cánh cửa vào trường mỹ thuật. Cuối cùng ông mới được cho vào học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật (60-65). Ra trường ông trở thành người lính sử dụng tên lửa, canh giữ cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Sau đó ông bị đưa vào “tuyến lửa” Vĩnh Linh, Tây Nguyên, Nam Lào. Cầm súng chỉ là chuyện bất đắc dĩ của người con trai trong thời chiến, suốt đời ông chỉ muốn cầm cọ. Ông mê vẽ từ thuở nhỏ. Với một cục than đen, một miếng gạch đỏ, mẩu sắn mì khô, viên phấn trắng…ông vẽ cả lên sân, lên tường nhà hàng xóm để Mẹ ông bị “mắng vốn” không biết bao nhiêu lần. Dần dần ông phát hiện ra một bãi cát bao la dọc bờ sông La, và trên bãi cát mịn, tấm canvas thiên nhiên vô tận trời tặng cho riêng ông mở ra. Thế là sáng chiều ông ra bờ sông tha hồ vẽ, những nét vẽ thô, trẻ thơ, không hình, không màu, không rõ, trên cát bờ sông, vẽ xong, xóa đi, vẽ lại. Bãi cát bên sông là nền tảng, nơi thực tập mỗi ngày để ông hoàn thiện những tác phẩm nổi tiếng về sau. Hết chiến tranh ông đi học lại và tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật Việt Nam năm 77. 

 

 

Tháng 9 năm ngoái, từ bên nhà, Mẹ vợ tôi gọi qua cho Vân Các nói là cuối tháng 9, Chú có qua Mỹ triển lãm tranh, Mẹ muốn vợ chồng con xuống Washington gặp Chú. Mẹ nói Chú tò mò muốn biết con bé sinh năm 74, lúc chưa đầy 1 tháng tuổi mà Mẹ Cam Ly thường bê vào phòng học để một góc nào đó, lâu lâu lại cho bú, bây giờ nó trưởng thành ra sao. Là lớp trưởng năm ấy, Chú sợ thầy chủ nhiệm la, nên Chú khuyên Mẹ đem con bé đã bọc kỹ trong chăn, nằm gọn trong “cũi” gỗ nhỏ, thò cái đầu đầy tóc và đôi mắt tròn xoe tò mò nhìn mọi người, đem đi qua bên ký túc xá gởi. Ai thấy con bé gái đáng yêu cũng dành lấy bồng bế, nựng nịu. Con bé ngoan, hết bú rồi nằm yên ngủ, không làm phiền ai, đến chiều tối thì được Mẹ đèo sau xe đạp về nhà. 38 năm sau hai Chú cháu không hẹn mà gặp nhau nơi xứ người, mừng tủi, lệ rơi. Cô cháu gái ngày nào nằm gọn trong cũi gỗ bây giờ là một tiến sĩ dược khoa. Ông lớp trưởng ngày nào bây giờ có tranh triển lãm khắp thế giới. Chú bảo: “Thế giới nhỏ nhỉ, không ngờ có ngày chú cháu lại gặp nhau nơi cách xa quê hương nửa vòng trái đất”. Rồi Chú đùa: “Mới có tháng tuổi mà nó đã được đi học đại học nên sau này nó học giỏi Chú không có gì ngạc nhiên”. Để kỷ niệm, Chú bảo Vân Các ngồi yên, Chú vẽ cho một bức chân dung. Ngồi xuống ghế vừa nói chuyện với Hương, con gái của Chú, vừa làm người mẫu, Vân Các không ngờ chỉ chưa đầy 20 phút bức họa đã vẽ xong. Nhìn bức họa, nhìn người mẫu, Chú tấm tắc: “Ôi! xinh qúa”. Nghe câu nói này tôi chợt nghĩ chắc Chú đang nhớ về cô bạn sinh viên cùng lớp hội họa tên Cam Ly xinh đẹp ngày nào. Chú bảo: “Trông nó xinh đẹp, giống Mẹ nhỉ ?”

 


Đẹp! là từ cửa miệng thường dùng của những người xem tranh, nhưng với những tác phẩm hội họa của Chú, đẹp không phải là từ đủ để diễn tả. Tranh của ông giống như bề ngoài ông. Một bề ngoài không có nét của một họa sĩ chút nào. Hôm xem trên TV thấy ông cùng hội thoại với nhiều họa sĩ nổi tiếng trong nước, trong đó có họa sĩ Trần Khánh Chương, trông ông khác hẳn mọi người. Khi suy tư, đăm chiêu, mắt ông mở trừng trừng, đăm đăm, to, đen, sắc sảo, nhìn như xói vào người ông đang nhìn. Với hàng chân mày đậm dựng ngược lên, cùng với bộ râu kẽm, trông ông giống hình ảnh của một Trương Phi trên cầu Trường Bản trong phim Tam Quốc Chí hơn là một họa sĩ tài danh. Ở ông toát ra một nội lực, một phong độ khác thường so với những người cùng thời. Có dịp vào các trang mạng của hơn 60 nhà sưu tập tranh của ông trên thế giới ta mới thấy tranh của ông rất phong phú, đa dạng về đề tài, mỗi giai đoạn ông vẽ một loại thể loại khác nhau. Tranh ông vẽ với nét thô, mộc, nhưng thần thái phát tiết ra ngoài mạnh mẽ như bề ngoài con người ông. Cái ông vẽ là thần hồn chứ không vẽ cái xác như bao họa sĩ khác. Nhìn tranh ông, chưa vội thấy, chưa vội nghĩ, nhắm mắt lại suy gẫm. Ở đó nó chuyên chở những thông điệp, mang lại những khung trời mà mắt ta đã bắt gặp đâu đó, nhưng là phần ta không thấy hay thấy mà không để ý. Tranh của ông không buồn, dù vẽ cảnh buồn. Đâu đó chút ánh vàng mênh mông của đồng lúa chín báo hiệu một vụ mùa bội thu. Một giải mây trắng vắt vẻo, treo cô đơn trên bầu trời quê xương xa. Những mảng vàng, mảng trắng, mảng xanh trong hình ảnh tuổi thơ nơi đồng quê mà trong ký ức chúng ta đi xa mang theo, giờ chỉ còn tìm về trong giấc ngủ mơ. Nhìn tranh ông, không thấy biên giới giữa mây trời cao, khung cảnh dưới đất, và vật thể chung quanh. Tất cả quần quyện nhau như thể không rời. Cái nét thân thiện, gần gũi giữa con người, con gà, con trâu, con chó…tất cả gắn bó như một phần máu thịt người dân nghèo nơi thôn dã. Ông vẽ nhiều về trật tự của hoài niệm, hoang dã của xóm làng, tuyệt đối không vẽ cái mới xô bồ. Cảnh trong tranh của ông phản ảnh cách sống, thức, ngủ trong tiềm thức dìu về từ xa lắc đến hiện tại. Bề dày của cuộc sống trải qua hơn 60 năm sống khổ, sống vui cùng với những thao thức, trăn trở qua thời gian là thông điệp rất rõ cho thế hệ sau ông cảm thông qua tranh vẽ. Những ai đã có dịp làm quen và gần gũi với thôn dã, xóm làng, nhìn tranh ông thấy lại cả một khung trời cũ. Ở xứ người, được nhìn tận mắt tranh ông vẽ trên canvas như thể ta đang được về lại chốn xưa, nơi vẫn còn nguyên đó một bến đò, cây đa, sân đình và hình ảnh bà mẹ quê còng lưng trên đồng cấy mạ. Nhìn tranh ông có thể tưởng ttượng và ngửi ra được mùi bùn đen, rạ mục. Những ruộng mía trổ hoa, những cánh đồng lúa chín, những đêm trăng với gió mát, những ngày hội đổi mùa… đều xuất hiện trên tranh ông.

 

 


Nét vẽ trong tranh sơn dầu của ông rất Tây, nhưng nội dung và đề tài thuần Việt. Tranh sơn dầu mạnh mẽ bao nhiêu thì tranh sơn mài của ông dịu dàng bấy nhiêu. Cùng với màu sắc rực rỡ đó, tranh ông lúc nào cũng mang một lời nhắn nhủ. Tranh ông vẽ không có mục đích làm vui mắt người xem mà điểm chính là ông muốn gởi vào đó những thông điệp, đầy tính nhân văn. Mỗi bức tranh là một câu chuyện kể, một loại kịch câm, mà người xem phải chú ý đến từng góc cạnh rồi hồi tưởng lại mình đã thấy nó ở đâu, hay lục tìm trong tiềm thức, ký ức, đâu đó là những hình ảnh thật gần gũi mà cũng thật xa xôi. Xem tranh ông, người nhạy cảm rất dễ bị ám ảnh bởi những câu chuyện ông “đưa ra ánh sáng”. Mỗi thời ông vẽ mỗi khác, từ nội dung cho đến cách sáng tạo. Ông vẽ nhanh như thể cái ý tưởng vừa chợt đến, không kịp vẽ xuống, nó sẽ bay xa. Nhìn ông vẽ, tay vung cao lên như một nhạc trưởng, và từ đầu cây cọ màu sắc chảy ra, thần thái bắt đầu xuất hiện từ từ rồi dần rõ nét. Hôm đến thăm, lúc ông đang vẽ chân dung ông chủ tịch hội nghệ thuật người Mỹ. Trong phòng bao nhiêu người chăm chú theo dõi việc ông làm đã thầm ngưỡng mộ và thán phục. Ai cũng bảo chỉ trong vòng 20 phút vẽ mà ông đã chụp được cái thần thái của người mẫu và đưa lên canvas. Những bệt màu vàng, đỏ, cam tung tóe, vùng vẫy trên từng đường nét mạnh, gồ ghề, làm sống động chân dung của một người đàn ông đầy năng lực, hoạt bát, nhanh nhẹn và hoạt động mạnh mẽ trong giới hội họa ở Washington. Bức tranh Chú vẽ về Vân Các thì hoàn toàn ngược lại. Trông hình không giống người mẫu lúc bình thường, người trong tranh, ngoài đời thật hôm đó không giống nhau. Nhìn kỹ thì thấy có nét xa vắng, lo lắng, giống như những lúc cô ta đang suy tư, nghĩ ngợi. Chú đã nhìn ra cái hồn lúc đó, mặc dù hôm ngồi làm mẫu Vân Các đang vui vì được gặp Chú, không một điều gì buồn lo. Chú bảo tranh vẽ khác với hình chụp. Ít ai cười trong tranh bao giờ. Thế là Chú phải tưởng tượng ra nét mặt đó lúc buồn lo thế nào, rồi vẽ lên, thế mới tài chứ. Chú vẽ cái mà ta không thấy hay chưa thấy.

 

 


Trong bài giảng về hội họa mà tôi học được từ GS Nathan Knobler ở trường năm 76 ông bảo: “Cái ý nghĩa của nghệ thuật không nằm riêng rẽ ở chức năng như một chìa khóa mở lại cánh cửa đời sống mỗi cá nhân hay xã hội đã mất đi hay là phản ảnh của đời sống hôm nay; với một số giới thưởng ngoạn, nghệ thuật chủ yếu chỉ là nguồn giúp thỏa mãn cảm hứng và trí tuệ mà không cần đến tham khảo thêm từ bên ngoài”. Như thế, muốn hiểu về nghệ thuật sáng tạo, trước hết ta phải ghi nhận quá trình hình thành tác phẩm, hiểu được sự cấu tạo và tính cách trí tuệ cũng như xúc động của người tạo ra nó. Bởi thế, muốn hiểu tranh ông chúng ta phải biết một ít về con người thật của ông. Ở trên tôi đã nói sơ qua về tuổi thơ ông sống như con mồ côi Cha, bây giờ tìm hiểu thêm một chút về ông những giai đoạn sau. Giai đoạn mà cả hai miền Nam-Bắc đều đói nghèo. Làm họa sĩ thời này khổ lắm, ông bảo. Dụng cụ để vẽ không có, tranh vẽ ra bán ít người mua. Bức tranh không đủ đổi lấy mấy chén gạo. Cởi áo lính ông mở “xưởng vẽ” năm 93 ở Hà Nội. Ông ngồi vẽ trong căn phòng xập xệ, chật hẹp, tranh bày ngổn ngang, nhưng ông phải lao động cật lực để có tiền nuôi hai đứa con, không Mẹ. Tranh ông lạ, có sức hấp dẫn mạnh, người sành tranh, đa số là người ngoại quốc, lui tới mua tranh và giới thiệu cho bạn bè. Có một bà người Pháp tên Francois Flane lúc đó làm đại diện cho UNICEF ở Việt Nam thấy tranh ông đúng gu của bà, nên bà đã mua nhiều tác phẩm của ông nhưng không trả tiền. Ông không nói được tiếng Pháp nên để bà lấy bao nhiêu cứ lấy. Chừng 3 năm, bà người Pháp ghé lại chỗ ông ngồi vẽ, đưa ông đi đến một căn biệt thự ở làng hoa Nghi Tàm, và trao ông chìa khóa nhà. Bà bảo đó là nhà của ông từ tiền bà đã bán những bức tranh đã lấy từ ông, bên Tây. Ông không tin những gì đang xảy ra, nhưng đến khi bà nói: “Mày có nhà rồi, cho tao ở chung với”. Ông mắc cỡ, gãi đầu, cười cười vội vàng dắt bà ấy đi đăng ký kết hôn.Từ một người mà thời đó họ gọi là “thợ vẽ” lây lất sống qua ngày bên đường, bỗng một ngày ông đã làm chủ một căn biệt thự và làm chồng một bà đầm, người đã yêu ông và tranh ông tha thiết. Ông đổi đời từ đó. Có sức khỏe tốt, có nhà ở thoải mái, có người sống cùng, có hẳn một gallery bày và bán tranh. Ông vẽ ngày đêm, vẽ không biết mệt, với sức vẽ thật kinh khủng. Ông là một họa sĩ Việt Nam sáng tác mạnh nhất. Đang còn sống mà được nổi tiếng như cồn ở trong nước cũng như nước ngoài bên cạnh những người đã khuất như danh họa Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân… Giới yêu tranh trong nước thì lập ra một câu lạc bộ với 60 thành viên mua và cất nhiều tranh ông để: “mai kia con cháu muốn xem tranh ông không phải ra nước ngoài” như lời ông Nguyễn Sĩ Dũng, phó chủ tịch quốc hội, người sáng lập ra câu lạc bộ này đã nói. Ông kể, ngày qua Paris triển lãm tranh, thấy người đi xem xếp hàng rồng rắn trước giờ triển lãm, ông mừng không cầm được nước mắt. Hôm 18 tháng 3 vừa qua cũng là ngày ông nhớ mãi. Nhân sinh nhật 70 tuổi, bạn hữu, giới sưu tập tranh đã đưa 70 tác phẩm để đời của ông ra triển lãm. Nhiều nhà ngoại giao mê nghệ thuật từ các nước, những người có tên tuổi ở Hà Nội, những đại gia săn tranh ông từ các quốc gia trên thế giới đến chúc mừng sinh nhật ông. Nhớ lại những năm tháng tranh ông vẽ không người mua, đói khổ, tương lai mờ mịt, nay ông như người từ dưới đất bay thẳng lên mây. Tôi gọi điện về thăm đúng lúc ông vừa ở nơi triển lãm về. Trong cơn xúc động ông nói với hơi thở dồn dập: “Chú vui quá cháu ơi, có lẽ đây là ngày vui nhất trong đời của Chú”

 

 

Ông vui, nên tranh ông vẽ những năm tháng gần đây cũng thể hiện cái nét vui đó ra thật rõ ràng . Nói thế không phải là bức tranh nào của ông cũng vui, cũng vàng ươm, cũng xanh mướt. Hôm triển lãm tranh của Ông ở Washington, tôi bị ám ảnh bởi một bức tranh rất lạ. Tôi thẫn thờ nhìn bức tranh vẽ trên vải bao bố vì năm 72, đang buổi chiến tranh, vải trắng không có để may áo lấy đâu mà dùng căng lên khung vẽ. Vì là vải bao bố, nên chất liệu có màu xám nâu, dày cộm. Màu sơn dầu khó bám, không loang ra, nên bức tranh đầy những nét gồ ghề, thô mốc, như tranh vẽ ba chiều, chìm nổi. Đó là bức họa vẽ ông già mù, tay ôm con gà, được thằng bé dắt đi trong cơn mưa nặng hột. Ông già mặt áo cời, đội nón lá rách, mắt hướng lên trời đầy phẫn nộ. Ông thấy gì trong không gian mù mịt với đôi mắt không còn ánh sáng? Không! thật ra ông ngước mặt lên như ngạo mạn, thách đố trời cao vì ông đã gánh chịu hết bao tai ương đổ xuống đời ông. Mưa có rơi thêm nữa, thì ông cũng chẳng còn gì để mất. Ông không sợ! Tài sản còn lại duy nhất là con gà đang ôm chặt trên tay và thằng cháu dắt ông đi bằng cây gậy trong cơn mưa lũ. Đây có phải là hình ảnh của người thương binh sau khi đã hy sinh đôi mắt mình trong chiến tranh về lại quê nhà, đối diện với đói nghèo thiếu thốn? Đây có phải là một người từ quê lên thành phố kiếm ăn? Và trong đêm tối mưa lũ, hai ông cháu dắt nhau về đâu để tìm nơi tá túc? Xem bức tranh, mấy tuần sau tôi vẫn còn bị hình ảnh ông già mù ám ảnh, dằn vặt mãi. Cái cảm giác như thể lần đầu tiên nhìn thấy bức tranh “The Scream” hay là “The Cry” vẽ bằng sáp năm 1895 của Edward Munch mà mới đây đã gây chấn động thế giới vì có người mua với giá 125 triệu đô la. Bức tranh vẽ vội vàng, cảnh một người đứng trên cầu, tay ôm mặt, miệng mở to, mắt thao láo trợn trừng nhìn, đầu hói trọc, hét. Cái đầu rỗng như chiếc đầu lâu. Sâu thẳm đàng xa là mây trời tím, xanh, vàng, vần vũ thản nhiên, nhấp nhô như sóng. Tiếng hét hay tiếng khóc không âm, không làm động lòng ai vì cuối cây cầu có hình hai người vẫn thanh thản, dửng dưng đi dạo. Cô đơn, sợ hãi, hoảng hốt, buồn là những gì ta nhìn thấy nơi bức tranh “tiếng hét quái dị” này. Edward Munch, người Na Uy, sau khi đến Paris năm 1889, nơi ông thấy những tác phẩm theo chủ nghĩa biểu hiện (Expressionism) rất độc đáo của những họa sĩ khai phá lối vẽ trường phái mới này như Toulouse-Lautrec, Van Gogh và Guiguin. Lối vẽ dùng màu sắc và hình tượng để chuyên chở nội tâm bên trong. Lối vẽ này rất thịnh hành ở Âu Châu cho đến sau thế chiến thứ nhất rồi phai mờ dần. Ở Việt Nam, trường phái này vẫn còn nhiều người theo đuổi cho mãi đến bây giờ, mà điển hình là bức tranh ông già mù của họa sĩ. Tôi hỏi Hương, cô con gái xinh đẹp lo quản lý tranh cho Chú, đã có ai làm chủ bức tranh này chưa? Hương nói có một người Đại Hàn, trả một giá rất cao, nhưng cô không thuận. Hương bảo là muốn giữ nó để cho vào viện bảo tàng cùng với một số tranh khác của Chú, và là báu vật của gia đình, có thể mai kia trở thành tài sản quốc gia.

 


 

Phải dùng chữ báu vật để nói về tranh của Chú mới đúng. Khi Chú đem hơn 200 bức tranh qua California triển lãm. Những người chống cộng ở đây tổ chức biểu tình chống đối vì ông là cựu sĩ quan quân đội miền Bắc. Người chống cứ chống, người thích cứ ùn ùn vào xem. Thế là 200 bức họa bán sạch trong 1 tuần lễ. Hương gọi điện cho bạn tôi ở Florida bảo là nếu muốn bán thì gởi 20 bức họa qua California thì có người mua ngay. Chưa kịp gởi tranh đi, tôi biết chuyện liền ngăn cản. Tôi nói với bạn: “Người ta muốn có tranh của Chú phải đi tìm mua. Mình đã có nó trong tay sao lại bán đi. Hãy giữ lại trong nhà, mai kia bốn đứa con lập gia đình, cho mỗi đứa vài tấm làm kỷ niệm. Để chúng nó biết là chúng nó có Ông Chú là một danh họa Việt Nam”. Tôi còn nói thêm “Nếu một ngày nào đó bạn không muốn giữ nó nữa thì gởi cho mình, muốn bao nhiêu thì mình đưa cho. Đừng bán cho người ngoài” Nói thế chứ tôi biết gia đình ông bạn bác sĩ người gốc Ninh Hòa của tôi chắc chắn sẽ không bao giờ để những báu vật này ra khỏi nhà mình.

 

 

Trong tất cả các trường phái vẽ tranh, cách thể hiện tranh của trường phái biểu hiện qua sơn dầu là cách mà ông thành công nhất. Ông vẽ rất nhiều cảnh sinh hoạt gia đình ngày xưa: mẹ-con, bà-cháu, ông-cháu. Những hình ảnh gợi nhớ lại thời đói nghèo mà Mẹ của hoạ sĩ, không chồng, một tay tảo tần nuôi ba đứa con thơ. Với cảnh nhà ảm đạm, u buồn, người bà, người mẹ trong tranh với thân hình ốm yếu, da bọc xương, má hóp, lưng còng, đút cho đứa cháu từng miếng cơm ngô trộn sắn. Nhưng cũng có những bức tranh ông vẽ cảnh gia đình ngày nay khác hẳn. Người đàn bà trong tranh với nét sung mãn căng tròn bầu vú sữa. Ngưòi Mẹ nằm ngủ, bên cạnh là đứa bé hồn nhiên, miệng ngậm một vú, một tay mân mê vú kia của Mẹ, một chân gác lên mình Mẹ. Hai mẹ con say sưa trong giấc ngủ thần tiên. Người Mẹ trong tranh với mái tóc đen mượt, khuôn mặt đẹp, thân hình căng đầy sức sống. Nhìn hình ảnh này ta có thể nghĩ là ý tác giả muốn nói: “qua rồi cái thời ăn không đủ, ngủ không ngon”. Tấm drap trắng che hững hờ thân hình nửa kín nửa hở, chảy dài một bên là mái tóc đen mượt như màu quần lãnh mỹ a đen, nổi bật lên giữa bức tranh, nói lên sự tương phản ngày đêm, âm dương. Đặc biệt hơn nữa là hình những đứa bé đan xen trong chiếc chiếu. Bầy con đông như con Mẹ Âu Cơ trong huyền thoại trăm con. Hay chăng trong giấc ngủ mê, người Mẹ muốn có thêm nhiều con nữa. Từ bức tranh toát lên hạnh phúc gia đình, sức sống căng đầy, và cái thiên chức làm mẹ. Cũng từ bức tranh nude này ta có thể tưởng tượng đến cái cảnh trong bài thơ Cô Gái Ngủ Ngày của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Có tính dục, nhưng không gợi dục, chỉ lộ lên cái độ sung mãn, hừng hực, thèm muốn có thêm nhiều con nữa của bà mẹ mới có một con.

 

 

Một người sưu tập tranh của ông ở Bắc Ninh, tên Nguyễn Bá Hoan, biết tôi thích tranh ông nên gởi thư làm quen và tự giới thiệu là đã sưu tập được khoảng 200 tác phẩm lụa, sơn dầu, sơn mài, tranh giấy, bao tải, và trên sứ của ông. Anh gởi cho tôi hình chụp một bức tranh có tên là “Cô Lái Đò Bến Hạ” anh rất thích nhưng bức tranh đã lọt vào tay anh Tiến, một Việt kiều giàu có ở Quận Cam, cũng là người làm chủ rất nhiều bức tranh giá trị của nhà danh họa. Anh hỏi tôi thấy gì ở bức tranh này tôi viết: ”Đây là một bức tranh lạ, đẹp như một bài thơ. Nỗi buồn héo hắt trên nét mặt cô lái đò ngồi tựa cửa chờ ai. Cô lái đò ốm mảnh mai, mặc áo dài, như hình ảnh những cô lái đò trên sông Hương ở Huế thời xưa, thời và nơi ông sinh ra. Cũng với đường nét sơn đen nổi bật trên nền sơn trắng, ông thêm vào đó chút nắng chiều hắt màu hồng lên trên má, và một vệt vàng dài trên mặt sông, soi rõ dáng con thuyền đang neo đậu chờ người. Con đò chờ khách hay cô lái đò chờ người tình. Bên cạnh cô là con mèo ốm cuộn mình nằm ép bên chân cô gái ngủ. Cả hai u buồn đợi chờ khi bóng hoàng hôn sắp tắt. Đẹp, lãng mạn, nên thơ, một bài thơ buồn như đời cô lái đò ngày ngày đưa khách qua sông nhưng không một người ở lại. Trong căn chòi heo hút, trên tường có treo tấm hình, chắc là hình một người lính đã hy sinh, để lại nét tang thương trên môi má người thiếu phụ.

 

 

Từ giã gia đình Chú và gia đình người bạn, vợ chồng tôi lái xe về lại Philadelphia, đàng sau cốp xe là bức tranh vẽ chân dung Vân Các còn thơm mùi sơn chưa kịp ráo. Buổi chiều hôm đó trời chớm thu nên nắng nhẹ, gió trong. Bầu trời Washington tự nhiên có nét thân thiện và đẹp hơn ngày thường. Đi cặp kè bên Chú tôi thấy gần gũi như một người thân, mà đã chẳng phải là người thân từ lần đầu tôi được xem tranh Chú ở nhà người bạn đó sao. Tôi đã quấn lấy Chú, đi bên Chú, lắng nghe Chú kể chuyện say sưa về ý nghĩa những tác phẩm của mình.

Trên đoạn đường dài 3 tiếng lái xe về nhà, vợ chồng tôi nhớ những kỷ niệm với Chú vừa qua. Tôi chợt nhớ lại những lần trong lớp học về môn nghệ thuật tạo hình, lời người thầy giảng 37 năm trước vẫn còn như in trong đầu. Thầy đã dạy: “Trong cái nhìn của tôi, muốn giới thiệu cho người đời biết thưởng ngoạn nghệ thuật ta phải bắt đầu bằng cố gắng loại bỏ rào cản từ sự hiểu lầm và thành kiến của người không được đào tạo về nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật. Họ phải tìm thấy sự liên tục giữa nghệ thuật của quá khứ và hiện tại. Họ phải được cung cấp và trình bày rõ ràng cùng lập luận đúng đắn về tính cách của nghệ thuật tạo hình, để giúp tháo gỡ những nghi ngờ mà họ cảm thấy khi đứng trước những tác phẩm của các họa sĩ, điêu khắc gia hay kiến trúc sư. Cuối cùng, người thích tìm hiểu về nghệ thuật tạo hình phải được đào tạo khả năng hiểu biết về nghệ thuật mà không cần phải có tác nhân thứ ba chỉ cho họ thấy cái gì cần thấy, tại sao phải thấy như vậy và tác phẩm đó có ý nghĩa gì…”

 

Bài viết này tôi không muốn làm tác nhân thứ ba đó. Tôi chỉ làm việc là ghi nhận lại những cảm nhận của riêng mình với một người thân, một người bạn của gia đình và một ít về vài tác phẩm trong số tác phẩm khổng lồ của ông.

Thưa các bạn, người tôi muốn nói đến trên đây chính là Họa Sĩ Phạm Lực.

 NGUYÊN LƯƠNG

 Philadelphia 23 tháng 3, 2013


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phố núi Pleiku và những tâm hồn nghệ sĩ- Nguyễn Đoan Tuyết

Bài Thơ Tháng 12- Phạm Xuân Đài

Autumn Leaves/ Lá Thu- Cô Trần thị LaiHồng