Tiếng Lòng Trong Thơ Trần Bảo Định- Kim Đức
Tác giả: Kim Đức
Cám ơn Kim Đức đã tiếp tục tham gia chuyên mục bình thơ của Hương Xưa mà theo cô thường nói một cách khiêm nhường:“ tôi chỉ là người yêu thích thơ, văn, yêu từng con chữ như một món ăn tinh thần không thể thiếu.” V ì thế nên Kim Đức luôn yêu thơ, đọc thơ, phân tích và nhận định về thơ một cách say mê bằng cái nhìn rất riêng, rất độc đáo từ một góc cạnh rất đặc biệt:
“…Nếu Xuân Quỳnh mượn sóng nhớ bờ để nói lên nỗi nhớ trong tình yêu thì Trần Bảo Định đã mượn mái chèo, giọng hò khoan nhặt để nói lên nỗi nhớ vợ ở quê nhà. Nỗi nhớ trong thơ ông rất cụ thể với thời gian và không gian: “chiều qua sông/nước về xuôi” được ông viết bằng một cảm xúc nhẹ nhàng, bình dị, nhưng chan chứa tình yêu thương, tạo nên một chiều dài nỗi nhớ, một chiều sâu nỗi buồn,” (Kim Đức). Chúng tôi cũng xin chân thành cám ơn sự góp ý của anh Nguyên Lương về việc đăng những bài bình thơ vào Trang Chủ, rồi sau đó mới đưa vào mục Bình Thơ cho những ai cần tham khảo. Rất mong sự đóng góp bài vở trong những tháng tới của quí thân hữu để cho vườn hoa Hương Xưa của chúng ta ngày càng khởi sắc.
Xin mời bước vào vườn thơ của Trần Bảo Định qua bài viết sâu sắc và nhiều cảm xúc của Kim Đức.
Thân ái. lêtrọngminhkha.
TIẾNG LÒNG TRONG THƠ TRẦN BẢO ĐỊNH
Kính tặng nhà thơ Trần Bảo Định
Tôi may mắn được nhà thơ Trần Bảo Định tặng cho hai tập thơ, “Mẹ – tiếng lòng” và “Vợ tôi”, có lẽ đó là lời tri ân ông muốn gởi đến hai người phụ nữ quan trọng mà ông yêu thương nhất trong cuộc đời này.
Tôi không nhận định và bình luận thơ ông, tôi chỉ là người yêu thích thơ, văn, yêu từng con chữ như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Đến với thơ ông, tôi chỉ muốn tâm tình và chia sẻ đôi điều cảm nhận của một kiếp người lỡ yêu thơ.
Lòng tôi se thắt, ngậm ngùi khi chạm vào tựa đề “Giỗ đầu của mẹ”. Tôi chưa có cái cảm giác đớn đau khi mất mẹ, nhưng đọc bài đầu tiên trong tập thơ “Mẹ-tiếng lòng”, cảm giác hụt hẩng như vừa đánh mất một vùng trời yêu thương bởi sự ngắt nhịp ở hai cặp câu lục bát, như tiếng nấc nghẹn ngào:
Lòng ơi!
se sắt tâm hương
Giỗ đầu, lạy mẹ
nhớ thương vô cùng
mênh mông
Trời đất mịt mùng
Hắt hiu bóng mẹ
Ngập ngừng khói sương!
(“Giỗ đầu của Mẹ”, Mẹ – tiếng lòng, trang 7)
Và nỗi nhớ về Mẹ cũng là tiếng lòng, khởi nguồn cho tập thơ của ông. Hình tượng người mẹ sinh thành, thiêng liêng trong thơ ông không chỉ là lòng yêu thương và đức tính hy sinh thầm lặng cho chồng, cho con như bao người phụ nữ Việt Nam:
Thân cò lặn lội Mẹ gian nan
Gạo chợ nước sông cảnh trái ngang
Mưa nắng bao ngày lòng chẳng quản
Dãi dầu năm tháng dạ cưu mang”
(“Mẹ ơi!”, Mẹ – tiếng lòng, trang 8)
Mẹ lam lũ sống. quên nhan sắc
Cơ cực vì con, khó bởi chồng
Làng lính nhiều phen o ép ngặt
Thân cô, thế yếu phải cùm gông
(“Đêm quê nhà“, Mẹ -tiếng lòng, trang 19)
Ông giữ nguyên ký ức về Mẹ, là những hình ảnh thật bình dị: dòng sữa, bắp, khoai…. ngọt ngào như lời ru được ông viết bằng một cảm xúc dồn nén :
Miếng con ăn buổi đầu đời
Là dòng sữa mẹ ngọt bùi bắp khoai
Giàu đôi mắt, khó đôi tay
Cơm chan máu lệ, Mẹ vay nợ đời
(“Đêm đợi chờ”, Mẹ -tiếng lòng, trang 15)
Thơ ông còn khắc sâu nỗi khổ mà người mẹ phải gánh chịu, được ông diễn tả một cách lắng sâu và đẹp rạng ngời qua những từ:” đếm/đong/nuôi dưỡng” càng làm nỗi bật lên sự chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam:
Mẹ ngồi đếm khổ, đong cay nghiệt
Nuôi dưỡng tình quê trong khó khăn
(“Nhớ Mẹ“, Mẹ -tiếng lòng, trang 17)
Thương con, đâu chỉ là vòng tay âu yếm, đâu chỉ là nâng đỡ con những bước đi đầu đời mà con luôn bị vấp ngã, mà người mẹ còn băn khoăn, lo lắng và mong ước mai sau con mình sẽ lớn khôn và nên người. Mẹ ông là một trong những người mẹ nghiêm khắc, tận tâm dạy dỗ các con về nhân cách sống và những điều hay lẽ phải ở đời :
Roi tre Mẹ dọa cốt khuyên răn
Nghiêm cấm con thơ sống nhẫn tâm
Chữ nghĩa trau dồi tiên học lễ
Chí nhân rèn luyện, hậu ôn văn
(“Mẹ ơi!”, Mẹ -tiếng lòng, trang 8)
Ông tự hào về tấm lòng nhân hậu của Mẹ mình. Trong lúc gian nan, nghèo khó, Mẹ đã nhường cơm xẻ áo giúp đỡ bạn nghèo:
Mẹ làm thuê mướn khắp trong làng
Bênh vực người ngay trước kẻ gian
Giúp đỡ bạn nghèo khi túng quẫn
Nhường cơm, xẻ áo lúc nguy nan
(Trích trong bài “ký ức về mẹ”, Mẹ -tiếng lòng, trang 13)
Nhà thơ Trần Bảo Định đã đi qua những thăng trầm của cuộc sống, biết bao đổi thay trong cuộc đời ông, nên nỗi nhớ về Mẹ được ông viết bằng nhiều cung bậc cảm xúc sâu thẳm từ trái tim. Ông thấu hiểu những cảm xúc riêng tư của Mẹ cũng như của những người phụ nữ đã ngóng trông, chờ đợi người đàn ông của mình trong thời chiến tranh, bom đạn như chính tâm tư mình:
Ánh đèn leo lét mồ côi
Cha đi muôn dặm trùng khơi chưa về
Đoạn đời lắm nỗi nhiêu khê
Những dòng nước mắt mặn tê môi người
(“Đêm đợi chờ”, Mẹ -tiếng lòng, trang 15)
Mẹ tôi hằn những nỗi đau
Chân run, gối mỏi, tóc màu bạc phơ
Thương chồng, chín đợi, mười chờ
Đơn phương, độc mã, biết nhờ cậy ai
(“Tạ lỗi”, Mẹ -tiếng lòng, – trang 21)
Xã Bình Trinh, huyện Tân Trụ đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn Mẹ ông, tâm hồn của người phụ nữ thật duyên dáng, mặn mà bên bó rơm, bó rạ thơm mùi hương của đất An Vinh Ngãi, quê chồng bà với giồng dưa hấu hoa vàng, trĩu trái:
Tháng chạp đồng khô mùa gió chướng
Mẹ lo cắt rạ, bó rơm về
Bên giồng dưa hấu hao vàng rượm
Trĩu trái oằn dây bám đất quê
(“Nhớ mẹ “, Mẹ -tiếng lòng, trang 17)
Làm sao ông có thể diễn đạt hết bằng những ngôn từ hay nhất để nói về tình Mẹ. Chỉ còn là những nỗi nhớ khôn nguôi, những hoài niệm về tháng ngày đã qua và như một lời tạ tội của ông đối với Mẹ, như một thông điệp về chữ hiếu thấm đẫm tình người mà ông muốn gởi cho các con và cho những ai diễm phúc vì còn có Mẹ:
Lạnh lắm Mẹ ơi dưới mộ sâu
Đêm nay thức trắng lệ thương sầu
Âm dương đôi ngã giờ ngăn cách
Con mất Mẹ rồi, mất thật sao
Hỡi ai còn Mẹ sống trên đời
Hạnh phúc tuyệt vời đó bạn ơi!
Trọn đạo yêu thương tình mẫu tử
Thì ta mới xứng được làm người
(“Mẹ ơi” , Mẹ -tiếng lòng, trang 10)
Trong bầu trời yêu thương của đời ông có hai người phụ nữ quan trọng nhất, ông chỉ còn lại một, đó là người mà:
Em cay mi mắt lần đầu
Và anh uống những giọt sầu tương tư!
(“Gặp em”,Vợ tôi, trang 7)
Và sau giọt sầu tương tư đó, sau lần cay mi mắt ấy, người phụ nữ đã nhận lời cầu hôn với ông, bởi lẽ chiến tranh và bom đạn, biết có còn ngày mai để mà yêu thương chiều chuộng lẫn nhau:
Chiến tranh vui ít, lo nhiều
Biết còn sống sót để chiều chuộng nhau?
Thôi thì năm miếng trầu cau
Một chai rượu lễ có nhau trọn đời
(“Em nhận lời cầu hôn” ,Vợ tôi, trang 8)
Cuối cùng ông cũng đã tìm được một nửa của mình trong thời bom đạn:
Gối đầu mình gối chung lòng
Màn trời chiếu đất động phòng tân hôn
(“Đêm tân hôn”,Vợ tôi, trang 11)
Chìm đắm trong hạnh phúc ngọt ngào, nhưng rồi ông cũng phải chia tay vợ để ra sa trường khi hương nồng nàn từ mùi chồng còn phảng phất đâu đây. Nỗi buồn đan kín trong lòng người vợ khi nghĩ đến bom đạn, mạng sống của chồng mong manh như làn khói:
Bàn tay đan kín vấn vương
Mùi chồng còn phảng phất hương nồng nàn
Bóng chiều đông cứng thời gian
Mong manh mạng sống như làn khói sương
(“Bữa cơm chiều” ,Vợ tôi, trang 12)
Thơ lục bát là thể thơ dân tộc, Trần Bảo Định đã dùng thi liệu dân gian, kết hợp với giọng thơ ngọt ngào, tha thiết, những hình ảnh giàu sức gợi cảm để nói lên tâm trạng mừng vui của vợ khi ông từ chiến trường ghé về thăm, tạo nên một hình ảnh bình dị nhưng thật xúc động và đầy yêu thương:
Chồng về , chạy đón vấp chưn
Mình đau té ngã mắt rưng rưng mùng
Lá me rơi rụng lưng chừng
Heo kêu con khóc cơm sùng sục sôi
Giúp nhau, em bảo rằng thôi
Tháo giày, thay áo nghĩ ngơi đi mình!
Quần vo sát háng lội sình
Cắt rau muống luộc, cá linh hấp dừa
(“Hôm về thăm vợ” ,Vợ tôi, trang 38)
Nếu Xuân Quỳnh mượn sóng nhớ bờ để nói lên nỗi nhớ trong tình yêu thì Trần Bảo Định đã mượn mái chèo, giọng hò khoan nhặt để nói lên nỗi nhớ vợ ở quê nhà. Nỗi nhớ trong thơ ông rất cụ thể với thời gian và không gian: “chiều qua sông/nước về xuôi” được ông viết bằng một cảm xúc nhẹ nhàng, bình dị, nhưng chan chứa tình yêu thương, tạo nên một chiều dài nỗi nhớ, một chiều sâu nỗi buồn:
Chiều qua sông nhớ vợ nhà
Tiếng ai khoan nhặt như là vợ tôi
Giọng hò theo nước về xuôi
Mái chèo thúc bách trong tôi nỗi buồn
(“Chiều qua sông nhớ vợ” ,Vợ tôi, trang 87)
Nhưng trong hình ảnh những người dân chân chất hiền lành ấy, trong cái xã hội đầy bon chen, lừa lọc, ông cũng kịp nhận ra những con người hèn nhát, xấu xa được ông viết với giọng thơ đanh thép, mang hàm ý sâu sắc và cay đắng:
Chiều qua sông nhớ để quên
Những phường không đáng lưu tên tuổi đời
Gọi mình, tôi gọi mình ơi
Nước ngày một tới, mình coi lũ hèn
(“Chiều qua sông nhớ vợ”,Vợ tôi, trang 87)
Bên cạnh hình ảnh Mẹ – Vợ và quê hương, thơ Trần Bảo Định còn khắc họa những nỗi đau và mất mát của con người trong chiến tranh, mối tình đầu trong sáng nảy sinh trong thời bom rơi, đạn nổ được ông viết bằng một nỗi ám ảnh và ray rức :
Thơ tình chưa kịp gởi
Chiến tranh về làng em
Ruộng vườn bom đạn xới
Em chết rồi, trong đêm
(“Tình Đầu” , Mẹ -tiếng lòng, trang 29)
Đêm nay Sài Gòn mất em rồi
Xào xạc thềm xưa tiếng lá rơi
Quạnh hiu âu yếm hồn cô độc
Lắng đọng hờn ghen xác ra rời
(“Sài gòn mất em”, Mẹ -tiếng lòng, trang 33)
Nhiều đêm uống rượu anh không ngủ
Tự hỏi vì sao bắn giết nhau
Vì sao gọi hai tiếng đồng bào
Đất nước bốn ngàn năm rực lửa
(“Đôi bạn cùng làng”, Mẹ -tiếng lòng, trang 94)
Tin dữ Gạc ma đau ngất đi
Mưa chiều nhòa biệt lệ sầu bi
Anh ơi, dạ chửa con chòi đạp
Truyền kiếp thù này khắc cốt ghi!
(”Khóc chinh phu”, Mẹ – Tiếng lòng, trang 49)
Còn viết về nỗi đau của con người trong thực tại xã hội, ông khắc họa một kiếp người trong cõi nhân sinh qua thân phận người phụ nữ trước sóng gió của cuộc đời như để cảm thông và chia sẻ nỗi niềm với một giọng thơ sâu cay, chua xót:
Kiếp người cạn chén thương đau
Chén thương đau ấy đậm màu thế gian!
(”Khóc bạn“, Mẹ -tiếng lòng, trang 61)
Bán cái trời cho, chẳng cướp ai
Lấy trôn nuôi miệng sống qua ngày
Thằng trên, đứa dưới leo hì hụp
Tuột xuống, trèo lên, mẹ kiếp bay!
(“Bán hoa chiều 30 tết”, Mẹ -tiếng lòng, trang 69)
Cũng đành trắc nết nuôi con
Miếng cơm manh áo bướm ong dập vùi
Nhiều đêm khóc hóa ra cười
Trời cay nghiệt nỡ giết người hồng nhan
(“Câu chuyện buồn” , Mẹ -tiếng lòng, trang 111)
Từ đó ông thấu hiểu giá trị cuộc sống và nỗi đau của con người, để rồi nghiệm ra rằng:
Sự sống từ hơi thở
Tình yêu từ chân thành
Hạnh phúc từ đau khổ
Hòa bình từ chiến tranh
(“Giả ảo” , Mẹ -tiếng lòng, trang 125)
Nhớ anh. quên một nữa
Quên anh, nhớ trọn đời
Khóc, em đau một nữa
Cười, em đau khôn nguôi
(“Mòn mỏi” , Mẹ -tiếng lòng, trang 37)
Ta say để giấu cái tên
Để quên các ác người chèn ép nhau
Ta say để giấu niềm đau
Để không còn tỉnh ngắm màu mắt em
(“Say” , Mẹ -tiếng lòng, trang 39)
Dẫu biết rằng sống chết lẽ thường
Mà sao vương vấn nợ đau thương
Tiễn em về đất, trời rung chuyển
Tử biệt, sinh ly khúc đoạn trường
(”Khóc vợ“, Mẹ -tiếng lòng, trang 62 )
Đời em gạo chợ, nước sông
Gian truân căm phận, long đong vẫn cười
Gió sương cũng đã nhiều rồi
Giờ thì chiêm nghiệm cõi người ta ơi!
(“Chiêm nghiệm”, Mẹ -tiếng lòng, trang 133)
Ngoài triết lý về nhân sinh, trong thơ ông còn là những giá trị về đạo lý làm người rất rành mạch, cụ thể:
Sáng mai, con bước theo chồng
Khóc chi cho Mẹ quặn lòng, con ơi!
Ra đi, mẹ dặn mấy lời
Nhớ là dâu tốt để người ta thương
(“Sáng mai, con bước theo chồng” ,Vợ tôi, trang 66)
Nhìn con cõng cặp đến trường
Oằn vai gánh chữ mà thương học trò
Sợ con lêu lỏng bơ vơ
Nhiễm bịnh xã hội chực chờ thiệt thân
Ra đường cướp giựt bất nhân
Về nhà trộm cắp nợ nần bủa vây
Học hành chạy điểm chạy thầy
Niềm tin đã mất tương lai nào còn?
(“Mẹ dạy con”,Vợ tôi, trang 58)
Đến với thơ ông, chúng ta có thể khám phá quan niệm của ông về hạnh phúc trong cuộc sống qua thể thơ tự do bằng tình yêu thương và sự thức tỉnh của con người với một giọng thơ sôi nổi nhưng cũng đầy thiết tha:
không có chia ly
sao hiểu được tương phùng?
không có khổ đau
sao sẻ chia người đau khổ?
con chẳng cần đi tìm cái thế giới tốt đẹp
bởi, nơi nào sẵn có cái thế giới tốt đẹp ấy
con đi tìm hạnh phúc
hạnh phúc đâu tìm?
hạnh phúc từ trái tim
từ nơi con đang sống
từ những đói nghèo,
lạc hậu bất công,
bạo quyền, tù ngục
từ sợ hãi trở thành vô cảm
con trở về nơi con xuất phát làm người
đó chính là hạnh phúc!
(“Nói với con trai” ,Vợ tôi, trang 44)
Thơ Trần Bảo Định ít chú trọng đến những ngôn từ du dương, bay bổng mà chất thơ ông được chắt lọc từ trong sâu thẳm của tâm hồn, rất gần gũi, rất chân tình, nhưng đôi khi là những câu thơ đầy chất triết lý phương Đông, nhuốm màu sắc Phật giáo:
Nhật nguyệt ôm nhau
Trời đất úa màu
Thời gian rụng xuống
Đành vứt tình đau
(“Một cõi” , Mẹ -tiếng lòng, trang 41)
Tình vui theo gió
Lá yêu úa tàn
Niệm từ giờ ngọ
Dụ ngôn đạo tràng
(“Ngỡ” , Mẹ -tiếng lòng, trang 43)
Sẽ có ngày xa thế giới này
Đoạn đường kết thúc cõi trần ai
Bạc tiền, danh vọng phù hư trả
Nhà cửa, ruộng vườn như khói mây
(“Một đoạn đường”, Mẹ -tiếng lòng, trang 47)
Nghiệp từ tâm thức bùi ngùi
Trên cành chim Khứu đang muồi mẫn em
Dãi mây vô lượng diễm kiều
Từ trong đau khổ ta chiều chuộng em!
(“Cõi riêng” , Mẹ -tiếng lòng, trang 59)
Khi anh gọi hai tiếng mình ơi!
Là đủ rồi anh cũng kiếp người
Cát bụi trở về nơi cát bụi
Trần gian quán trọ một đêm thôi!
(“Tình phụ”, Mẹ -tiếng lòng, trang 107)
Nhận thức được cái không vốn thường hằng, nên ông biết cách tích/tản cái sắc luôn vô thường để có thể sống một cách ung dung tự tại, cho dù cuộc đời có gặp những bất trắc xảy ra:
“Tích tản sắc, giữ trọn không
Sắc không, không sắc cõi lòng an nhiên
Mai sau dù có ngã nghiêng
Ta về chiêm nghiệm bên thiền quán xưa!”
(“Nhịp thời gian” , Mẹ -tiếng lòng, trang 75)
Bước chân trong mạng nhện
Mượn dây đưa diều bay
Chân như là bờ bến
Tử sinh biết ngắn dài
(“Thà như bước chân” , Mẹ -tiếng lòng, trang 71)
Từ những điều đã ngộ được, nên với ông cái chết chỉ là giấc ngủ trong cõi vô thường, chấm dứt cuộc sống ở cõi nhân gian mà thôi:
Đừng báo tin buồn, đừng tiếc thương
Ngủ yên, mình ngủ giấc vô thường
Chiều trăng tiễn biệt anh về đất
Một cõi nhân gian thế đã xong
(“Dặn vợ” ,Vợ tôi, trang 116)
Tôi chưa được một lần gặp ông, chỉ biết thơ ông qua trang mạng Hương xưa, nhưng tôi nghĩ Trần Bảo Định đã thành công trên con đường thi ca bởi thơ của ông được chắt lọc từ trái tim yêu thương, đã lan tỏa và kết nối những tâm hồn thơ lại với nhau; là tiếng lòng của ông đã chạm mạnh vào những mảnh vỡ của cuộc đời thành những âm thanh vang vọng mãi trong lòng người đọc thơ, yêu thơ ở cõi trần gian này:
Hạnh phúc, khổ đau đồng giá trị
Đến và đi vô ngã thôi em
Nhị nguyên nào thể là chân lý
Hoàn hảo, bất toàn, rối rắm thêm
(“Tự sự” ,Vợ tôi, trang 76)
Quy Nhơn, ngày 30 tháng 10 năm 2014
Kim Đức
Nhận xét
Đăng nhận xét